Nhiễm độc thai nghén

Nhiễm độc thai nghén là tình trạng bệnh lý diễn ra trong thời gian mang thai, thường xảy ra vào tuần mang thai thứ 21 và hay xuất hiện ở người chửa con so, đa thai hoặc đa ối. Biểu hiện thường thấy là: phù, tăng huyết áp, đái albumin (xét nghiệm nước tiểu có albumin).

Tình trạng nhiễm độc thai nghén thường từ nhẹ đến nặng. Đầu tiên xuất hiện phù nề chi dưới, cân nặng cơ thể, tăng cân quá nhiều (1 tuần có thể tăng 0,5-1kg). Tiếp đó xuất hiện tăng huyết áp và albumin niệu. Nhiễm độc thai nghén mức độ nhẹ, được điều trị kịp thời thì không gây nguy hiểm đối với bà mẹ và thai nhi. Nếu không được khám và điều trị kịp thời thì triệu chứng sẽ nặng dần, người bệnh xuất hiện nhức đầu hoa mắt, tức ngực, nôn, ù tai... thậm chí co giật, choáng ngất, ngã vật, thân thể cứng đờ, sùi bọt mép (tình trạng này được gọi là sản giật). Cơn sản giật có thể liên tục dẫn đến mê man bất tỉnh, thậm chí tử vong. Nhiễm độc thai nghén có thể gây co thắt mạch máu toàn thân, ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc cung cấp ôxy và dinh dưỡng dẫn đến tình trạng thai nhi chậm phát triển trong tử cung, thai nhi yếu nếu nhẹ hoặc thai nhi chết trong tử cung nếu sản giật không được xử trí kịp thời.

 

Vì vậy phải điều trị kịp thời khi có nhiễm độc thai nghén:

- Kể từ khi bắt đầu mang thai, bà mẹ phải khám và kiểm tra thường xuyên, sớm phát hiện bất thường để chữa trị kịp thời.

- Trong thời gian mang thai, cần chú ý nghỉ ngơi nhiều hơn, không lao động chân tay quá sức, chế độ ăn tăng cường chất dinh dưỡng, thường xuyên bổ sung protein và vitamin, ăn giảm lượng muối.

- Khi phát hiện có phù, tăng cân nhanh hoặc các dấu hiệu bất thường thì phải đến khám ngay tại các cơ sở y tế (cân nặng, đo huyết áp, nghe tim thai, siêu âm thai...).

Khi đã xác định nhiễm độc thai nghén thì phải điều trị theo chỉ định của thầy thuốc. Tăng thời gian nghỉ ngơi, giảm ăn muối. Nếu bệnh nặng thì phải được điều trị tại bệnh viện.

Điều quan trọng để phòng tránh nhiễm độc thai nghén là vợ chồng phải cùng nhau học hỏi những kiến thức cơ bản về mang thai, sinh đẻ và nuôi con cũng như biết cách giữ gìn sức khỏe để hôn nhân hạnh phúc.

Bác sĩ Nguyễn Thị Phương

(Bác sĩ Nguyễn Thị Phương)

Ảnh hưởng của tuổi tác đến khả năng sinh sản ở phụ nữ

Ngày nay, cùng với nhịp sống hiện đại, ngày càng nhiều phụ nữ lập gia đình muộn nên tuổi mang thai của người phụ nữ cũng trở nên muộn hơn. Tuy nhiên, phụ nữ mang thai khi tuổi lớn hơn hay bằng 35 tuổi thì được xếp vào một nhóm tuổi mà theo thuật ngữ y khoa gọi là “tuổi mang thai già” (AMA). Việc này sẽ mang đến nhiều nguy cơ tiềm ẩn có thể xảy ra với cả mẹ lẫn con. Vì vậy, người phụ nữ lớn tuổi cần chú ý nhiều hơn đến sức khỏe khi mang thai.

 Trẻ bị hội chứng Down thường gặp ở các người mẹ lớn tuổi.
Ảnh hưởng của tuổi tác đến khả năng sinh sản

Sau tuổi 30, khả năng sinh nở của người phụ nữ bắt đầu giảm dần và đó là lý do vì sao các cặp vợ chồng khó có con hơn và cũng phải đối mặt với nhiều vấn đề sinh sản hơn. Qua tuổi 40, khả năng sinh sản của nữ giới bắt đầu giảm, trứng rụng thưa dần, mỗi năm có thể có vài chu kỳ kinh nguyệt không có trứng rụng. Đến một lúc nào đó, thường vào khoảng từ 45 - 55 tuổi, khi không còn hành kinh nữa, thời điểm này gọi là mãn kinh, kết thúc tuổi sinh sản của người phụ nữ. Theo các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ thì cơ hội mang thai của người phụ nữ trong mỗi kỳ kinh nguyệt là:

- 50% ở những người tuổi 19-26, nếu họ quan hệ vào thời điểm dễ thụ thai nhất (2 ngày trước khi rụng trứng) với bạn tình cùng tuổi.

- 40% đối với phụ nữ 27-34 tuổi.

- Dưới 30% ở những người 35-39 tuổi. Tỷ lệ này có thể giảm tới 20% nếu chồng già hơn vợ 5 tuổi, vì lúc này khả năng sinh sản của người đàn ông cũng giảm.

Lứa tuổi nào là thích hợp với việc mang thai và sinh nở

Phần lớn nữ vị thành niên (từ 17-19 tuổi) đã hoàn toàn đủ điều kiện về mặt thể chất để có thai (có tiềm năng sinh sản cao, cơ thể lại khỏe mạnh) nhưng họ lại chưa đủ trưởng thành về mặt tâm lý để làm mẹ. Vì vậy, lứa tuổi sinh con đầu lòng tốt nhất là trong khoảng 20- 30 tuổi.

Những nguy cơ tiềm ẩn của bà bầu lớn tuổi

Dị tật thai nhi: một trong những biến chứng thường gặp nhất ở các bà bầu lớn tuổi đó là thai nhi mắc hội chứng Down. Lý do là tuổi tác làm cho các thể nhiễm sắc ở trứng không tách biệt tốt, chúng dễ kết dính với nhau và khi tạo thành một tổ hợp nhiễm sắc thể nào đó thì có thể dẫn đến hội chứng Down và nhiều bệnh khác do có nhiễm sắc thể thừa. Ngoài ra, là các nguy cơ khác như các dị tật, bệnh bẩm sinh do sự biến đổi gen. Tuy nhiên, với sự tiến bộ của y học ngày nay thì mọi bệnh tật, dị tật bẩm sinh đều có thể chẩn đoán từ rất sớm.

Nguy cơ sảy thai cũng tăng lên: những con số thống kê về sảy thai tăng theo tuổi tác cũng cho thấy gần 15% phụ nữ bị sảy thai dưới 35 tuổi, tỷ lệ sảy tăng lên 20% ở độ tuổi 35-37; 25% ở độ tuổi 38-40 và 40% sau 40 tuổi. Vì tỷ lệ sảy cao ở những phụ nữ có tuổi, cho nên số bị sảy từ 2 lần trở lên không phải là hiếm.

Tác động đến quá trình lâm bồn: sự can thiệp của y học sẽ tăng lên cùng với tuổi tác của người mẹ. Phần lớn trong số họ đều rơi vào tình trạng khó sinh và phải nhờ đến các biện pháp hộ sinh do tầng sinh môn còn chắc, sức rặn yếu hơn các sản phụ trẻ nên việc rặn không có hiệu quả cao và phải nhờ đến sự can thiệp từ bên ngoài của bác sĩ như: thúc chuyển dạ, gây tê ngoài màng cứng, kẹp forceps hay sinh chỉ huy và tỉ lệ sinh mổ cũng tăng cao khi bà bầu lớn tuổi .

Tăng biến chứng: với những phụ nữ sinh nở lần thứ nhất khi đã trên 30 tuổi, cần lưu ý thường xuyên đi khám thai định kỳ để phát hiện dị tật và những biến chứng có thể gặp. Bên cạnh đó nên đề phòng một số chứng bệnh hay gặp như: cao huyết áp, tim mạch, đái tháo đường, dễ có bệnh ở nhau thai (cơ quan cung cấp oxy và nuôi dưỡng thai), tiền sản giật…

Vì vậy, khi phụ nữ lớn tuổi mang thai cần phải đặc biệt theo dõi đến sức khỏe của mình và thai nhi. Cần đi khám định kỳ và theo đúng lịch hẹn để phát hiện sớm các vấn đề như: cao huyết áp, đái tháo đường, tiền sản giật. Việc chuẩn bị sức khỏe thật tốt trước và trong thời gian mang thai, sẽ giúp giảm được phần nào những nguy cơ nêu trên.

Phương Hiếu (Theo Pregnancy for Dummies)

Biện pháp giảm căng đau ngực sau sinh

Các bác sĩ cho biết, căng sữa là một trong những nguyên nhân khiến phụ nữ sau sinh cảm thấy ngực căng đau, và có đến 20% có triệu chứng này.

 Nên cho trẻ bú đều cả 2 vú.

Có hai nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hiện tượng này. Thứ nhất là sau khi sinh, cơ thể của người phụ nữ đã quá mệt mỏi, ảnh hưởng đến giờ giấc nên cơ thể không cho con bú đúng giờ. Thứ hai là những sản phụ phải mổ sinh thì sau khi sinh, vết mổ sẽ gây đau, làm cho chị em không kịp thời cho con bú được.

Tuy nhiên, bất kể là do nguyên nhân nào làm cho ngực bị căng sữa khiến cho ngực bị đau tức thì chị em đều phải hết sức chú ý. Bởi vì ngực căng đau sẽ làm ức chế sự bài tiết của sữa, làm cho lượng sữa ít đi, khiến cho người mẹ không có đủ sữa cho con bú. Ngoài ra, bị tắc sữa cũng là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến viêm tuyến sữa. Vì vậy, một việc hết sức quan trọng là phải kịp thời phòng tránh tắc sữa.

Các bác sĩ đã đưa ra lời khuyên cho những phụ nữ mới sinh hai biện pháp không cần dùng thuốc:

-Nếu khi mới sinh xong mà ngực đã căng đau thì phải kịp thời áp dụng biện pháp chữa trị, mà chủ yếu là chườm nước nóng. Đây được coi là một biện pháp giảm đau rất tốt. Nên lấy túi nước nóng khoảng 40-50oC chườm trong khoảng 10-15 phút, cách 4 giờ lại chườm một lần, cho đến khi cảm thấy đỡ căng đau thì thôi.

-Vắt bớt sữa cũng là một biện pháp giảm căng đau rất tốt, thường là sau khi đỡ căng đau, lấy vú cao su hút bớt sữa đi.

DS. KIM CHUNG

(Theo Tạp chí Sức khỏe Nga)

Để phát hiện sớm dị tật ở thai nhi

Thai nghén luôn luôn là niềm mong ước của các cặp vợ chồng trẻ đang muốn có con, nhất là với những cặp vợ chồng hiếm muộn. Tuy nhiên thai nghén và sinh đẻ cũng là mối lo lắng cho các cặp vợ chồng và gia đình họ. Làm thế nào để có những đứa trẻ khỏe mạnh; Làm thế nào để "mẹ tròn con vuông"... là những câu hỏi thường trực của thai phụ trong suốt chín tháng mười ngày. Hiện nay, với các phương tiện thăm dò và xét nghiệm hiện đại, các thầy thuốc chuyên khoa có thể giúp cặp vợ chồng trả lời hầu hết các câu hỏi đó.

Lợi ích của các chẩn đoán trước sinh

Ở nước ta hiện nay, tại các cơ sở điều trị sản khoa tuyến trung ương và một số bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh đã có thể thực hiện được các phương pháp thăm dò phát hiện dị tật thai trước đẻ sau đây:

- Sàng lọc bằng siêu âm ít nhất ba lần: Lần đầu: tuổi thai từ 11 - 13 tuần; Lần 2: tuổi thai từ 18 - 22 tuần; Lần 3: tuổi thai từ 28 - 32 tuần. Tốt hơn cả là dùng máy siêu âm ba chiều.

Siêu âm kiểm tra tình trạng của thai nhi.
Với ba lần làm siêu âm chẩn đoán, có thể phát hiện hầu hết các dị tật bẩm sinh cả trong nội tạng và bên ngoài như tim bẩm sinh, đảo ngược phủ tạng, thoát vị cơ hoành, não úng thủy, thoát vị rốn, thoát vị bàng quang, sứt môi, tay chân khoèo, chi báo biển (do thalidomit). Làm siêu âm với tuổi thai 13 tuần trở đi, nếu thấy lớp da vùng gáy dày hơn bình thường có thể nghĩ đến thai nhi bị hội chứng Down (tất nhiên cần làm thêm các xét nghiệm về sinh hóa và nhiễm sắc đồ mới có thể khẳng định chắc chắn).

- Xét nghiệm sinh hóa máu bà mẹ với ba xét nghiệm (triple test) là bê-ta hCG, anpha fetoprotein và estriol để xác định nguy cơ bị dị tật thần kinh (vô sọ, hở đốt sống) hoặc nguy cơ rối loạn thể nhiễm sắc (tam bội thể 21 hoặc 18).

- Chọc hút nước ối khi tuổi thai 20 tuần để xét nghiệm sinh hóa, nuôi cấy tế bào làm nhiễm sắc đồ phát hiện các bệnh di truyền rối loạn thể nhiễm sắc...

- Sinh thiết gai rau...

Những trường hợp nào cần chẩn đoán trước sinh?

Khi có thai, không ai có thể chắc chắn thai nhi trong bụng mẹ sẽ hoàn toàn bình thường. Ngay cả với các cặp vợ chồng còn trẻ, khỏe mạnh, đã từng sinh con bình thường cũng vẫn có nguy cơ sinh con dị tật, có điều tỷ lệ này thấp (khoảng 1-2% số trẻ sơ sinh). Vì thế nếu có điều kiện thì nên thực hiện chẩn đoán trước sinh cho mọi trường hợp thai nghén. Điều này được đặc biệt lưu ý đối với những trường hợp thai nghén có nguy cơ sau đây:

- Bà mẹ từ 35 tuổi trở lên: các nghiên cứu đã cho thấy các bà mẹ từ tuổi này trở đi, càng lớn tuổi thì tỷ lệ sinh con bị dị tật các loại càng nhiều, đặc biệt là các bệnh do rối loạn thể nhiễm sắc như bệnh Down (tam bội thể số 21).

- Bà mẹ đã từng sinh con dị tật lần thai nghén trước.

- Trong gia đình (cả bên chồng cũng như bên vợ) có người đã sinh con bất thường.

- Những cặp vợ chồng có nguy cơ do tiếp xúc nhiều và lâu dài với hóa chất độc hại như chất dioxin trong chiến tranh, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, các thuốc đã biết có thể gây ảnh hưởng cho thai (như thuốc an thần thalidomit), thuốc hoặc tia xạ chữa ung thư... Có tài liệu đã cho biết nếu dùng thuốc điều trị có corticoid từ 1 tháng trước khi có thai đến 3 tháng đầu của thai nghén thì tỷ lệ sứt môi của trẻ sơ sinh tăng hơn 5 lần so với nhóm các bà mẹ không dùng thuốc.

Các thuốc thuộc nhóm aminoglycoside (streptomycin, gentamycin...) có thể gây hư hại thần kinh thính giác của thai, gây điếc bẩm sinh và do điếc, trẻ lớn lên cũng bị câm luôn.

Mỗi cơ quan, bộ phận của thai nhi cũng có mức độ nhạy cảm đối với các loại thuốc mà bà mẹ sử dụng ở các tuổi thai khác nhau, ví dụ ở mắt từ tuần thứ 4 đến 8; tim từ tuần thứ 3 - 6; thần kinh từ tuần 3 - 5; tay chân từ tuần 4 - 7; răng - miệng từ tuần 7 - 8; tai từ tuần 4 - 9 và bộ phận sinh dục ngoài từ tuần 7 - 9... Từ 12 tuần trở ra, các cơ quan, bộ phận của thai đã được tạo hình hoàn chỉnh thì các yếu tố gây dị tật không còn tác động nữa nhưng thai vẫn có thể bị nhiễm độc do thuốc hoặc nhiễm khuẩn, nhiễm virut hoặc ký sinh trùng (như sốt rét chẳng hạn) từ người mẹ.

- Những phụ nữ bị sốt do nhiễm virut như cúm, sởi, quai bị, đặc biệt bị nhiễm virut Rubella trong thời gian ba tháng đầu tiên mang thai là giai đoạn phôi đang phát triển việc hình thành và hoàn thiện các cơ quan, bộ phận trong cơ thể. Các yếu tố bệnh lý nói trên tùy loại có thể gây dị tật cho một số cơ quan, bộ phận cơ thể của thai.

Như vậy với những cặp vợ chồng có nguy cơ nêu ở phần trên, khi có thai nên đến các cơ sở y tế sản khoa tuyến tỉnh hoặc tuyến trung ương để được thăm khám và làm các xét nghiệm cần thiết. Nếu không phát hiện điều gì bất thường thì có thể yên tâm chờ đợi cháu bé lành lặn ra đời; trường hợp không may nếu phát hiện thai có vấn đề bất thường sẽ được các thầy thuốc chuyên khoa tư vấn và hội chẩn đưa ra cách xử trí phù hợp nhất và cũng sẽ tư vấn đầy đủ cho thai phụ và gia đình về thai nghén những lần sau.

BS. Phó Đức Nhuận

Phụ nữ có thai cần cảnh giác với dịch cúm A (H1N1)

Kể từ khi WHO tuyên bố dịch cúm A (H1N1) chuyển từ cấp độ 4 sang cấp độ 5, đã có nhiều lo lắng cho rằng, loài người có thể đang đứng trước một đại dịch lây lan ra toàn cầu một cách nhanh chóng. Vậy bản chất của virut H1N1 là gì và ảnh hưởng đến thai nghén như thế nào?

Bệnh dịch cúm A (H1N1) bắt đầu bằng một nam giới ở Mexico bị viêm phổi cấp với các triệu chứng ho, sốt khó thở và bệnh nhanh chóng lây nhiễm cho những người khác rồi nhanh chóng tràn sang Mỹ với ca tử vong đầu tiên ở bang Texas (Hoa Kỳ) là một em bé 23 tháng tuổi, người Mexico, rồi bệnh vượt biên giới 2 nước này gây dịch cho thế giới. Tổng Giám đốc WHO, bà Margaret Chan đã khuyến cáo: "Loài người đang thực sự phải đối mặt với đại dịch, mọi biện pháp được tiến hành khẩn cấp". WHO đã đặt mức độ báo động cấp số 5, và đang xem xét chuẩn bị công bố báo động cấp 6, cấp cao nhất của dịch bệnh nghĩa là mức độ nguy hiểm cao nhất vì bệnh phát tán nhanh, rộng mang tính toàn cầu và mức độ gây bệnh nặng nề, khó điều trị, nguy cơ tử vong cao. Ban đầu các nhà nghiên cứu thuộc Trung tâm kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ (CDC) đã thấy loại virut này nằm trong gia đình virut H5N1, là sự tổng hợp của các loại virut gây bệnh ở người, lợn, gia cầm và chim nên gọi ngắn gọn là bệnh "cúm lợn". Trung tâm này cũng khẳng định rằng: virut không có nguy  cơ lây nhiễm từ việc ăn thịt lợn nhưng có khả năng truyền từ người sang người. Như vậy, bản chất virut mà tính chất gây bệnh cũng tương tự như bệnh SARS (gây viêm đường hô hấp cấp như vài năm trước đây). Bệnh cũng lây nhiễm trực tiếp người sang người, nhưng ban đầu người ta gọi là virut cúm lợn gây sự hiểu nhầm cho rằng lợn là vật chủ trực tiếp gây bệnh nên đã không ăn thịt lợn thậm chí dẫn tới cực đoan như Ai Cập đã tiêu hủy 300.000 con lợn để ngăn ngừa dịch. Tuy nhiên người ta cũng nhấn mạnh rằng khi ăn thịt lợn đã qua xử lý với nhiệt độ trên 70oC thì đảm bảo an toàn. Theo PGS.TS. Nguyễn Trần Hiển, Giám đốc Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, đây là loại virut hoàn toàn mới, có 4 vật liệu di truyền bao gồm các yếu tố di truyền của cúm lợn ở Bắc Hoa Kỳ, của cúm lợn ở châu Á, cúm gia cầm và cúm người. Hiện nay loại virut này gọi là cúm A (H1N1).

 Khả năng chống đỡ với bệnh tật ở phụ nữ có thai giảm nên dễ mắc cúm hơn người khác.
Khoa học  đã khẳng định rằng, virut cúm liên tục biến đổi cấu trúc theo thuyết "trôi dạt kháng nguyên" để tồn tại. Đó là sự biến đổi một cách từ từ về cấu trúc gen để tồn tại và thích nghi với môi trường mới cũng như kháng lại các hoá chất hoặc kháng sinh. Một điều quan ngại nhất cho khoa học là hiện tượng biến đổi kháng nguyên xảy ra khi có sự kết hợp ít nhất 2 hoặc nhiều chủng cúm khác nhau cùng xâm nhập vào một tế bào của cơ thể, tạo thành một loại virut mới (sub type) có chung những đặc điểm của virut cúm mà loài người đã biết nhưng lại xuất hiện những đặc điểm mới, gây bệnh nặng nề, nguy hiểm hơn và mức độ kháng thuốc cao hơn so với các loại virut cúm cũ làm khó khăn hơn trong quá trình phát hiện, điều trị cũng như sản xuất kháng sinh đặc hiệu và vaccin dự phòng. Hiện nay, người ta cũng đang nghi ngờ loại virut H1N1 đang lưu hành mang yếu tố gây bệnh cho người, lợn và gia cầm này có lẽ bắt nguồn từ một biến đổi kháng nguyên như đã nói ở trên và như vậy thực sự là một lo ngại cho y học và cộng đồng về điều trị và dự phòng. Một điều lo ngại nữa là đối với các loại virut cúm khác thường gây tử vong cho những người già yếu và trẻ nhỏ thì loại virut H1N1 lại gây tử vong cho nhiều trường hợp là thanh niên khỏe mạnh, những người có khả năng kháng lại bệnh tật cao và nếu đúng như vậy thì khó khăn về điều trị và phòng bệnh lại càng khó khăn hơn và đương nhiên tỷ lệ tử vong do bệnh cũng tăng cao. Người ta cũng đang lo ngại nếu có sự kết hợp giữa virut HIV với virut cúm A (H1N1) sẽ tạo ra một chủng virut mới thì nhân loại không thể tưởng tượng được mức độ tác hại đến nhường nào.

Triệu chứng lâm sàng khi bị bệnh là hội chứng viêm đường hô hấp bao gồm sốt trên 38oC, viêm long đường hô hấp, đau họng, ho khan hoặc có đờm. Ngoài ra, có thể có các triệu chứng khác như đau đầu, đau cơ, mệt mỏi, nôn, tiêu  chảy. Nhiều trường hợp có biểu hiện viêm phổi nặng, thậm chí suy hô hấp cấp và suy đa tạng. Hiện nay có thể sử dụng tamiflu và rerenza để điều trị khi bị bệnh.

Những người có nguy cơ mắc bệnh cao là những người có tiếp xúc với nguồn bệnh đã được xác định, xét nghiệm dương tính với cúm A nhưng không xác định được týp nào. Khi đó được xác định là mắc cúm A (H1N1), bệnh nhân phải được cách ly và thông báo kịp thời cho cơ quan y tế dự phòng, dùng thuốc kháng virut đơn độc hoặc kết hợp càng sớm càng tốt, kể cả các trường hợp nghi ngờ. Tất cả người bệnh, người nghi ngờ mắc đều phải mang khẩu trang y tế ở trong buồng và bên ngoài buồng bệnh. Hiện nay chưa có vaccin đặc hiệu vì vậy các biện pháp phòng ngừa thông thường:

- Che miệng khi ho hoặc hắt hơi bằng khẩu trang, khăn tay hoặc tay áo.

- Giữ gìn vệ sinh cá nhân. Rửa tay thường xuyên với xà phòng và tránh chạm tay vào mặt. Giặt quần áo bằng xà phòng hoặc nước sôi, dung dịch tẩy trùng nhẹ.

- Tránh xa những người bị bệnh.

- Đi khám nếu bạn sốt, ho, đau họng, đau người, đau đầu, ớn lạnh và mệt mỏi.

- Tránh tiếp xúc với đám đông và tránh tụ họp đông người khi đã có dịch, mang khẩu trang thường xuyên.

Đối với những người có thai càng cần phải chú ý nhiều hơn vì bản thân khi có thai, người phụ nữ bị giảm miễn dịch, khả năng chống đỡ với bệnh tật bị giảm nên dễ mắc bệnh hơn, nếu bị nhiễm virut cúm A (H1N1) thì càng nguy hiểm hơn, vì bệnh nặng hơn, khó điều trị và không chỉ ảnh hưởng đơn thuần đến thai phụ mà còn dẫn đến kết quả xấu cho thai nhi như sốt cao là dễ sảy thai, đẻ non; khó thở do viêm phổi, thiếu ôxy làm cho  thai nhi bị suy trong tử cung dẫn đến thai chết lưu, trẻ đẻ non, thiếu tháng, nhẹ cân, làm tăng tỷ lệ tử vong và bệnh tật.

Hiện nay, Việt Nam chưa phát hiện bệnh nhân bị nhiễm virut cúm A (H1N1), tuy nhiên nếu không cần thiết, thai phụ tránh tiếp xúc với người đang hoặc nghi ngờ bị cúm, thường xuyên mang khẩu trang. Nếu có dấu hiệu cúm, cần phải mang khẩu trang, đến  khám tại các cơ sở chăm sóc sức khỏe sinh sản hoặc khoa truyền nhiễm để được khám và tư vấn cũng như có biện pháp can thiệp thích hợp vừa hạn chế ảnh hưởng cho thai phụ và thai nhi cũng như cho cộng đồng. Không phải kỳ thị nhưng mọi người cần phải có ý thức tự giác và trách nhiệm bản thân với cộng đồng để dự phòng và khắc phục hậu quả nếu như có dịch cúm H1N1 xảy ra.

PGS.TS. Vương Tiến Hòa

Một số cách giảm nôn mửa khi có thai

Khoảng một nửa số phụ nữ ở thời kỳ đầu có thai, sau khi ngừng kinh nguyệt được 6 tuần sẽ cảm thấy đầu váng, người mệt mỏi, buồn ngủ, ăn uống kém, có một số người có hiện tượng thèm ăn những thứ khác thường, một số người còn có thể buồn nôn và nôn mửa.

Hiện tượng buồn nôn và nôn mửa thường phát sinh vào lúc sáng sớm, khi chưa ăn gì, không ngửi được mùi dầu mỡ...

Tất cả những hiện tượng trên đều thuộc phản ứng sinh lý khi có thai, trong ba tháng đầu rồi tự hết, không ảnh hưởng đến sức khỏe và không cần phải điều trị. Thật ra, nôn mửa là một dấu hiệu tốt của một bào thai khỏe mạnh. Một phụ nữ bị nôn mửa trong những tháng đầu của thời kỳ thai nghén thường ít bị sảy thai hoặc sinh non. Tuy nhiên có một số ít phụ nữ có thai buồn nôn và nôn mửa nhiều lần, kéo dài, đó là tình trạng nôn mửa dữ dội khi có thai. Nếu để kéo dài sẽ gây hậu quả nghiêm trọng.

 Cần  nghỉ ngơi, tránh làm việc căng thẳng. Ảnh minh họa

Nôn mửa khi có thai nếu nhẹ thì người phụ nữ có thai thường xuyên nôn và buồn nôn, không muốn ăn nhưng vẫn ăn được cho nên thể trọng giảm không nhiều nhưng người mệt mỏi rã rời, mất ngủ, bí đại tiện. Người bị nặng thì nôn mửa rất nhiều, kể cả khi không ăn, những thứ nôn ra chủ yếu là niêm mạc và nước bọt, có khi chứa cả dịch mật hoặc huyết dịch, thể trọng giảm sút, toàn thân rã rời, miệng khát, da và niêm mạc khoang miệng khô táo, hạ huyết áp, lượng nước tiểu giảm thiểu...

Nguyên nhân gây ra nôn mửa dữ dội khi có thai đến nay vẫn chưa rõ nhưng thường thấy ở những phụ nữ có công năng thần kinh không ổn định, tinh thần quá căng thẳng.

Để giảm bớt sự nôn mửa, bạn nên:

- Ăn nhiều trái cây có chứa đường glucose như cam, nho...

- Ăn những thức ăn thanh đạm, dễ tiêu, những thức ăn cô đặc, giàu hợp chất đường, prôtêin và vitamin như bánh ga tô, cháo sữa đậu nành, sữa bò, trái cây, kiêng thức ăn chiên, xào có nhiều dầu mỡ.

- Ăn vài cái bánh nhạt và uống một ly nước buổi sáng trước khi bước xuống giường, tiếp tục ăn mỗi 2, 3 giờ cho đến lúc đi ngủ để giữ mức đường trong máu đừng hạ quá thấp.

Ngoài ra cần chú ý nghỉ ngơi, tránh làm việc căng thẳng, tránh mọi kích thích không tốt, tạo tâm lý vui vẻ, thoải mái...

Nếu tình trạng bệnh không có chuyển biến tốt cần phải đi khám bác sĩ để có biện pháp điều trị hiệu quả.            

Bác sĩ  Quang Dũng

Thực đơn tết cho phụ nữ mang thai

Một thực đơn ngày tết cho thai phụ vừa dễ chế biến, ăn ngon miệng mà còn cung cấp đủ nguồn dinh dưỡng cho cả mẹ và con, rất giản tiện mà chất lượng lại kỳ diệu đến tuyệt vời. Tùy chọn lựa thay đổi trong các bữa ăn trong các bữa ăn trong ngày Tết sao cho tiện lợi mà tăng thêm phần vui vẻ, giữa khí xuân ấm áp, tràn đầy niềm vui...

Cá lóc chưng tương

Nguyên liệu gồm: cá lóc 1.000g, đậu tương hạt 50g, gừng củ tươi nửa củ, đường 1 thìa cà phê, dầu ăn, hành lá lượng vừa đủ chế biến.

Cách chế biến, sử dụng: cá lóc xát muối làm sạch, gừng gọt bỏ vỏ thái sợi, tương hạt pha với nước đường, tất cả cho vào hấp cách thủy chừng 30 phút, cho hành lá phi với dầu ăn lên trên, mang ra ăn với cơm. Đây là món ăn khá hấp dẫn, món cá lóc chưng tương vừa thơm ngon lại bổ dưỡng. Trong món này, cá lóc vừa giàu đạm, ít mỡ lại phối hợp với đậu tương làm tăng hứng thú ăn cho thai phụ. Là loại đậu chứa nhiều albumin, leucithin, sắt, canxi, vitamin B1, B2, acidnicotic... nếu thường xuyên ăn đậu tương hay uống sữa đậu nành hằng ngày sẽ làm cho da dẻ nõn nà, tinh lực dồi dào, hình thể khỏe, đẹp.

Cocktail dâu

Nguyên liệu gồm: yaourt 2 hủ, ổi chín 2 quả, cam 1 quả, dâu đỏ 5 quả, nho 10 quả.

Cách chế biến, sử dụng: rửa sạch, gọt bỏ vỏ ổi, thái miếng; cam, nho, bóc bỏ vỏ và hạt; dâu đỏ rửa sạch để ráo nước. Sau cùng cho ổi, cam, nho, dâu trộn đều cùng yaourt cho vào tủ lạnh hoặc có thể ăn ngay cũng được. Đây là món ăn vừa ngon mát, bồi bổ cơ thể bởi nhiều thành phần hợp lại như: thịt quả nho có thể dưỡng thân, tăng sức khỏe, bổ máu, trợ tim, lợi tiểu, có thể trị đau lưng, trợ - trị đau dạ dày, huyết hư, tim nhịp nhanh, mạnh... Người ta còn lấy quả nho 20g, sắc uống 2 lần trong ngày để trị phụ nữ mang thai bị tức ngực, đứng ngồi không yên. Còn ổi giàu vitamin C giúp tăng cường sức đề kháng. Đặc biệt lại có quả dâu bổ gan, thận nên người ta đã sử dụng ăn quả dâu để trị bệnh gan, thận mãn tính, chống táo bón...

Còn cam là loại giàu vitamin C chống các phần tử gốc tự do, chống oxy hóa, lại tác dụng kiện tỳ, hòa vị, ấm phổi, trị ho, tẩm bổ cơ thể... Yaourt cũng là thứ bổ dưỡng có tác dụng bồi bổ cơ thể.

 Ảnh: corbis

Thịt lợn sốt cam

Nguyên liệu gồm: cam 1 quả, thịt lợn nạc thăn 200g, bột ngô 10g, cùng nõn hành lá ta, đường, nước mắm, dầu ăn vừa đủ.

Cách chế biến, sử dụng: cam rửa sạch để ráo nước, cắt ngang quả vắt kiệt nước, gạt bỏ hết hạt. Thịt nạc thăn có thể thái sợi hay thái miếng mỏng rồi ướp cùng chút nước mắm và nõn hành cắt khúc, chút đường. Khi bắc chảo lên bếp nổi lửa to, chảo nóng đổ dầu rán vào, cho nõn hành đã cắt khúc phi thơm thì thả thịt nạc thăn đã thái vào chảo đảo đều nhanh tay, rồi cho ra đĩa. Còn bột ngô cho vào nửa bát nước ăn cơm, thêm ít đường và nước mắm. Sau đó lại phi thơm nõn hành với dầu ăn và cho nước bột ngô, khuấy đều vào chảo, đảo nhanh tay bột ngô khoảng 2 phút thì bắc xuống, pha nước cam đã vắt sẵn.

Khi ăn rưới thêm nước thịt. Trong món ăn này ta thấy có thịt lợn nạc thăn là loại thịt ngon, mềm và có độ đạm cao lại lành tính và có tính lạnh, vị mặn đi vào can, thận. Còn cam cũng là món ăn bổ dưỡng có vị ngọt, chua, chứa nhiều vitamin C có tác dụng làm tăng cường sức đề kháng của hệ miễn dịch trong cơ thể... Bột ngô cũng có vị ngọt, tính bình, tăng cường khả năng tiêu hóa cho dạ dày, ruột, lợi thủy, ngô rất giàu dinh dưỡng như đạm (chiếm từ 7-12%) và chứa nhiều vitamin hơn cả gạo, đặc biệt là vitamin E, vitamin nhóm B (B1, B2, B6) có lợi cho phụ nữ đang mang thai, chất lysine chiếm từ 1,8-4,45mg, triptophan 0,4- 1,0%... Hoặc hành cũng là vị thuốc có tính ấm, vị cay, thông dương, lợi khí…

Giò nóng khía mè đen

Nguyên liệu gồm: thịt giò lợn 100g, mè đen (vừng đen, hắc chi ma), nấm tuyết 2 tai, bún tàu 1 lọn, nước mắm và đường trắng mỗi thứ nửa thìa cà phê, cùng với hành lá, tỏi, dầu ăn vừa đủ.

Cách chế biến, sử dụng: giò lợn (chân giò lợn) rửa sạch cho ướp với nước mắm, đường, hành lá cắt khúc, xắt nhuyễn. Nấm tuyết, bún tàu ngâm nước cho nở mềm. Bắc bếp đặt chảo chờ nóng cho dầu ăn vào phi thơm hành, tỏi. Sau đó, cho giò lợn cùng mè đen vào chiên vàng. Đổ ngập nước, hạ lửa nhỏ riu riu trong khoảng 30 phút thì cho nấm tuyết và bún tàu vào. Tắt bếp, bắc ra ăn nóng rất thơm ngon.

Đây là món ăn khá tuyệt và rất giàu dinh dưỡng. Mặt khác lại có vị mè đen hợp cùng là loại có vị ngọt, tính bình, vào kinh can, thận. Trong mè đen có protein chiếm từ 20-22% cùng nhiều khoáng chất, các yếu tố vi lượng, vitamin E, acid folic, vitamin PP, chất leucithin… lại tác dụng bổ ích tinh huyết, nhuận táo, hoạt trường, giảm kích thích, chống viêm... thì thật là phù hợp cho người đang mang thai. Ngoài ra, nấm tuyết cũng có vị ngọt, tính bình, tác dụng nâng cao khả năng miễn dịch trong cơ thể, phòng trị bệnh ung thư...

Gà hầm tam thất

Nguyên liệu gồm: thịt gà 200g, tam thất 4g, câu kỷ tử 3g, táo tàu 3 quả, gừng sống 1 củ, cùng các vị muối, tiêu, nước dùng vừa đủ.

Cách chế biến, sử dụng: rửa sạch thịt gà, ướp cùng tiêu, muối. Gừng gọt bỏ vỏ ngoài, thái sợi. Táo tàu, tam thất, câu kỷ tử rửa sạch. Sau đó lót cho gừng, tam thất, câu kỷ tử dưới đáy thố, đặt gà lên trên, đổ nước dùng ngập gà, cho vào nồi đổ vừa nước hấp cách thủy, đun nhỏ lửa trong 2 tiếng là được. Mang thố ra ăn cả cái, uống nước.

Xét các vị chính chứa trong món ăn này ta thấy, vị tam thất, bộ phận dược dụng là rễ củ khô, có tính ấm, vị ngọt hơi đắng, đi vào can, vị. Công năng của thuốc có thể thay nhân sâm (là loại đại bổ nguyên khí), còn dùng trong trường hợp chảy máu do thương tích ứ huyết, sưng đau, phụ nữ sau sinh bị xây xẩm chóng mặt (bổ khí huyết)... Còn thịt gà là loại giàu đạm (thịt gà nạc chiếm 25% đạm), song thịt gà có tính ấm, vị ngọt, công năng bổ hư ấm trong, trị mệt mỏi lâu ngày. Câu kỷ tử bộ phận dược dụng là quả chín phơi khô, tính bình, vị ngọt, vào phế, can, thận, được sử dụng trong can, thận, âm hư, chân tay mỏi mệt... Vị táo tàu còn gọi là táo đen, táo đỏ, phần dược dụng là cùi thịt quả táo chín phơi khô hoặc sấy khô, có tác dụng tẩm bổ. Táo tàu tính ấm, vị ngọt, có công năng bổ tỳ, vị, nhuận tâm phế, điều hòa dinh vệ, lại hòa được cùng với bách dược... Hay gừng tươi, tính ấm, vị cay vào phế, vị, trị ngộ độc, đầy bụng...

BS. Hoàng Xuân Đại

(BS. Hoàng Xuân Đại)

Phòng tránh viêm lợi khi mang thai

Phụ nữ mang thai có nguy cơ bị viêm lợi caon hơn bình thường. Triệu chứung này có thể xuất hiện từ tháng thứ 2 của thai kỳ và kéo dài tới tận 6 tháng sau sinh. Dưới đây là những cách để bạn có thể khắc phục tình trạng này.

Biểu hiện

Lợi bạn bị sưng đỏ, dễ chảy máu, nhất là khi bạn đánh răng. Bạn có thể thấy xuất hiện thêm các dấu hiệu khác như: hôi miệng, ngứa và đau lợi. Viêm lợi thường được chia làm 2 giai đoạn:

Giai đoạn đầu: lợi đột nhiên bị sưng phồng, dễ chảy máu (nhất là khi đánh răng). Giai đoạn này lợi có thể bị sưng đau nhưng răng vẫn bám chắc trong chân răng. Bạn không có tổn thương răng miệng nào khác.

Giai đoạn cuối: nếu lợi bị viêm trong thời gian dài mà không có cách điều trị phù hợp, lớp lợi bên trong và xương hàm bị xô vào phía sau, tạo thành một lỗ hổng cạnh chân răng. Khi ấy, các lỗ hổng này sẽ là nơi tích tụ thức ăn thừa và vi khuẩn gây nên tình trạng nhiễm trùng chân răng. Lợi sẽ bị sưng viêm nghiêm trọng khiến bạn bị đau nhức, sưng má, miệng có mùi hôi khó chịu. Lâu ngày, lợi sẽ bị tụt xuống làm chân răng của bạn bị lộ ra, trông rất mất thẩm mỹ. Không những thế, khi lợi yếu đi, răng không còn chỗ bám nữa sẽ bị lung lay, cuối cùng là bị rụng.

 Nên đánh răng tối thiểu 2 lần/ngày.
Nguyên nhân

Do vi khuẩn phát triển trong mảng bám răng (một màng mỏng, bám vào bề mặt răng, thành phần gồm vi khuẩn, chất nhầy và vụn thức ăn). Do thay đổi các hormone trong thời kỳ thai nghén, làm giảm khả năng miễn dịch của lợi đối với vi khuẩn. Mức độ viêm lợi nặng hay nhẹ phụ thuộc vào tình trạng lợi của bạn trước lúc mang thai. Nhiều người cho rằng, bị viêm lợi khi mang thai là điều không thể tránh khỏi nhưng bạn hoàn toàn có thể phòng tránh được triệu chứng khó chịu này ngay từ đầu.

Phòng tránh viêm lợi khi mang thai

Nên khám nha khoa định kỳ mỗi năm kể cả lúc bạn chưa có thai, vì viêm lợi là chứng bệnh thường gặp ở bất kỳ độ tuổi nào. Trước khi có kế hoạch mang thai, bạn nên đi khám sức khỏe tổng quát, nhất là sức khỏe răng lợi để bác sĩ chữa trị dứt điểm việc viêm lợi (nếu có) của bạn. Nên đánh răng tối thiểu 2 lần/ngày, sáng sớm khi ngủ dậy và buổi tối trước khi đi ngủ. Sử dụng bàn chải mềm, chất liệu tốt để không gây tổn thương cho lợi. Có thể sử dụng thêm nước súc miệng và chỉ nha khoa để vệ sinh răng miệng mỗi ngày. Thay mới bàn chải sau mỗi lần bạn bị ốm: virus có thể cư trú trong bàn chải khi bạn bị ốm và khiến lợi bạn bị viêm sưng sau đó.

Ăn sữa chua và các loại thực phẩm giàu acid lactic có thể ngăn ngừa được chứng viêm lợi. Tuy nhiên, các loại sữa và phomai thông thường lại không có khả năng phòng ngừa được chứng bệnh này. Không nên đánh răng trong vòng 30 phút sau khi bị nôn, do các acid từ dạ dày lúc này có thể bám vào bàn chải và ăn mòn men răng khi bạn đánh răng trong những lần tiếp theo. Nếu phải đánh răng ngay trong trường hợp này, tốt nhất bạn nên thay mới bàn chải cho lần đánh răng sau.

Nên súc miệng bằng nước muối pha loãng hay nước súc miệng chứa fluor để làm mát và bảo vệ men răng sau khi bạn bị nôn.

Khắc phục khi bị viêm lợi

Đánh răng nhẹ nhàng: lợi sẽ trở nên nhạy cảm hơn khi bị viêm. Vì vậy, bất kỳ một tác động mạnh nào khi bạn đánh răng cũng khiến lợi bạn bị chảy máu và đau. Bàn chải điện có khả năng quét sạch mảng bám nên ngăn ngừa các bệnh về răng miệng tốt hơn bàn chải thường. Hạn chế các loại bánh kẹo ngọt, nước hoa quả chứa đường. Nên uống nước lọc thường xuyên thay cho nước hoa quả.

Hạn chế các loại đồ ăn cay nóng như: ớt, gừng… hay các loại đồ uống có cồn như: bia, rượu…

Súc miệng hay đánh răng ngay sau khi ăn, nhất là khi bạn ăn đồ ngọt. Nên đi khám bác sĩ khi bạn bị viêm lợi trong thời gian mang thai để tìm ra cách chữa trị thích hợp. Tốt nhất bạn nên đi đến khám tại các trung tâm nha khoa có uy tín.

Điều trị

Thông thường nếu nguyên nhân gây viêm lợi là do vi khuẩn trong mảng bám răng, bạn phải đến phòng khám để bác sĩ lấy sạch cao răng. Nếu bạn bị nặng, chảy máu lợi nhiều thì bác sĩ sẽ cho bạn sử dụng thuốc kháng sinh. Lưu ý, bạn phải tuân thủ tuyệt đối theo chỉ dẫn của bác sĩ, không tự ý dùng thuốc trong bất kỳ hoàn cảnh nào.

BS. THU PHƯƠNG

Huyết trắng

Huyết trắng là dịch tiết từ đường sinh dục, có thể gặp trong các giai đoạn khác nhau của nữ (bé gái, thiếu nữ, tuổi hoạt động tình dục, mãn kinh). Huyết trắng có nhiệm vụ bôi trơn, giữ ẩm, ổn định môi trường đường sinh dục nhằm hạn chế sự phát triển của các tác nhân gây bệnh.

Huyết trắng bình thường có màu trắng trong, dai, hơi tanh, giống như lòng trắng trứng. Huyết trắng thay đổi số lượng và tính dai theo chu kỳ kinh nguyệt. Nếu là huyết trắng bệnh lý, do viêm nhiễm đường sinh dục dưới (âm đạo, âm hộ), gây khô, rát, ngứa, có mùi hôi. Tác nhân gây huyết trắng bệnh có thể do nấm men, tạp trùng hoặc trùng roi.

 Ảnh minh họa

Huyết trắng do nấm men thường gây ngứa bộ phận sinh dục ngoài, số lượng ít, màu trắng đục thành mảng dính hoặc đóng cục, không có mùi tanh hôi. Bệnh thường gặp sau khi dùng kháng sinh, có thai hoặc những trường hợp suy giảm miễn dịch.

Huyết trắng do tạp trùng có số lượng trung bình, màu vàng loãng, mùi hôi. Bệnh thường xuất hiện sau khi mới bắt đầu quan hệ hoặc do thao tác thụt rửa vào sâu bên trong ống sinh dục.

Tại vùng sinh dục có rất nhiều vi khuẩn thường trú, vi khuẩn gây bệnh, nấm men cùng sinh sống. Bình thường vi khuẩn thường trú chiếm đa số và chúng sản sinh các chất có lợi cho môi trường ống sinh dục. Khi gặp điều kiện thuận lợi như thói quen thụt rửa vô tình đẩy vi trùng từ ngoài vào hoặc dùng thuốc kháng sinh gây chết các vi khuẩn thường trú... thì các tác nhân gây bệnh sẽ phát triển mạnh gây huyết trắng bệnh.

Cơ địa một số người dễ bị huyết trắng nấm tái phát sau khi dùng kháng sinh uống điều trị cảm, sốt, đau họng... hoặc một lý do nào đó gây thay đổi độ pH trong môi trường ống sinh dục. Vì vậy, để phòng bệnh cần:

- Vệ sinh sạch vùng kín nhưng không dùng dung dịch rửa quá nhiều lần trong ngày vì có thể làm thay đổi độ pH; lau khô bằng khăn sạch hoặc giấy vệ sinh sau mỗi lần rửa.

- Năng thay quần lót, tránh mặc quần ẩm ướt; không nên mặc quần bên ngoài bằng vải dày.

- Giặt sạch quần áo, phơi ra nắng và là nóng bề trái trước khi mặc lại.

Không thụt rửa khi vệ sinh mà chỉ nên rửa nhẹ nhàng bên ngoài vì ống sinh dục có khả năng tự làm sạch bằng cách tạo ra dịch tiết và các nhu động hướng từ trong ra để đẩy các tác nhân gây bệnh ra ngoài nếu có.

Khi có các dấu hiệu mắc bệnh, cần đến khám bệnh tại một cơ sở chuyên khoa để được điều trị thích hợp (điều trị nấm, phối hợp điều trị tạp trùng, và có thể điều trị phòng ngừa nhiễm nấm tái phát hoặc điều trị cả cho chồng của bạn).     

Bác sĩ  Hồng hạnh

Chăm sóc răng miệng ở phụ nữ mang thai

Nhiều phụ nữ mang thai thời kỳ đầu thường bị viêm răng lợi. Nguyên nhân gây bệnh này chủ yếu là phụ nữ sau khi có thai estrogen và progestin tăng nhiều làm cho huyết quản mao dẫn ở răng lợi mở rộng ra, gập cong lại, tính đàn hồi giảm yếu dẫn đến huyết dịch ứ trệ và tính thẩm thấu của thành ống tăng thêm. Đây chính là sự biến đổi về răng lợi do có thai gây nên. Ngoài ra, bệnh này còn có thể do các nguyên nhân như không chú ý vệ sinh khoang miệng, thức ăn tích đọng lại tạo thành mảng bám trên răng, vi khuẩn trong mảng bám răng gây nên viêm lợi; hàm răng không ngay ngắn thẳng hàng đều đặn; hô hấp bằng mồm...

Viêm răng lợi thời kỳ mang thai có hai đặc điểm: Một là tình trạng viêm ngày một nặng hơn cùng với sự tiến triển của thai kỳ. Hai là sau khi sinh, nhau thai bong ra, mức estrogen và progestin hạ thấp, tình trạng viêm nói chung sẽ dần dần tự tiêu tan.

Để phòng và chữa viêm lợi cần đặc biệt chú ý vệ sinh răng miệng, nhất là sau khi ăn bằng cách đánh răng. Bạn nên chọn loại bàn chải mềm, chải răng theo chiều từ chân răng dọc theo kẽ răng, chải nhẹ nhàng để không làm xước lợi, không để bã thức ăn và bựa răng giắt vào kẽ răng. Các bã thức ăn còn để lại trong kẽ răng sẽ lên men và sản sinh ra acid có lợi cho sự sinh trưởng của vi khuẩn. Sau khi vi khuẩn bám vào mặt răng, hình thành các đốm vi khuẩn phá hoại thượng bì của lợi răng làm viêm lợi nặng thêm và có thể gây xuất huyết răng lợi, đồng thời ăn mòn răng dẫn tới sâu răng. Nếu chải bằng bàn chải không làm sạch đước các kẽ răng có thể dùng chỉ nha khoa theo cách sau: lấy một đoạn chỉ nha khoa dài khoảng 40cm, quấn chặt hai đầu chỉ vào hai ngón tay giữa cho tới khi hai ngón tay cách nhau khoảng 10cm. Dùng đầu ngón trỏ tỳ vào sợi chỉ và đưa tới khe răng còn giắt thức ăn, nhẹ nhàng ấn sợi chỉ vào kẽ răng rồi kéo ngang 1cm. Lấy sợi chỉ ra, thức ăn sẽ ra theo sợi chỉ.

Ngoài ra cần chú ý chọn ăn những thức ăn mềm, thức ăn đã được nấu nhừ, ít phải nhai nhiều để tránh tổn thương răng lợi và giúp dễ tiêu hóa. Nên ăn nhiều trái cây và rau xanh tươi giàu vitamin C, hoặc uống bổ sung vitamin C để hạ thấp tính thông thấu của thành huyết quản mao dẫn.

Bác sĩ Thu An

(Bác sĩ Thu An)

Biến chứng của nạo phá thai

Thống kê cho thấy nạo phá thai là nguyên nhân của 5% số ca tử vong ở sản phụ. Ngoài ra, các thủ thuật này dễ dẫn đến thủng tử cung, băng huyết, tổn thương cổ tử cung hoặc âm đạo, tai biến do dùng thuốc gây mê, gây tê. Các tai biến xuất hiện muộn hơn là sót thai, sót nhau, nhiễm trùng, chấn thương tâm lý (có người bị trầm cảm), nhiễm trùng gây viêm dính buồng tử cung dẫn đến vô sinh...

 Ảnh minh họa (ảnh: Gettyimages)

Những biến chứng của nạo phá thai

Phương pháp nạo phá thai đến nay đã có những cải tiến lớn, tuy vậy vẫn không tránh được việc phải dùng dụng cụ nong bằng kim loại để nong rộng cổ tử cung; dùng que kim loại để dò hướng khoang tử cung và đo độ dài khoang tử cung; dùng ống hút bằng kim loại để hút phôi thai và đế cuống rốn; cuối cùng còn phải dùng muôi nạo bằng kim loại để nạo sạch khoang tử cung. Từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc, đều phải dùng dụng cụ bằng kim loại đưa vào đưa ra, tất nhiên có khả năng làm xước tử cung, thậm chí có thể làm thủng cổ tử cung. Nếu như đế cuống rốn không lấy ra được nhanh, sẽ ảnh hưởng đến sự co bóp của tử cung, do đó có thể làm cho các mạch máu không liền lại, trong quá trình thủ thuật đó sẽ bị mất nhiều máu. Vả lại, nếu trước đó, đã có viêm bộ phận sinh dục như viêm âm đạo, viêm cổ tử cung chưa được chữa khỏi, hoặc trong quá trình thủ thuật không nghiêm chỉnh thực hiện vô trùng đúng với quy định, thì những dụng cụ đưa vào đưa ra rất dễ đưa vi khuẩn vào khoang tử cung gây nhiễm trùng. Ngoài ra, việc nạo hút thai còn có khả năng để lại di chứng, nhất là đối với các trường hợp đã qua nạo hút nhiều lần, nguy hại sẽ không nhỏ, có thể xuất hiện các trường hợp sau:

Khoang tử cung bị dính liền: Nếu nạo hút quá mức, lớp đáy màng trong tử cung bị tổn thương, mặt tổn thương đó có thể dính liền lại với nhau sẽ làm ảnh hưởng đến sự vận hành của tinh trùng và làm cho trứng đã thụ thai khó cắm vào, do đó hậu quả thường thấy nhất là không thụ thai được, nếu có thì cũng dễ sảy thai, dẫn đến sự thay đổi về kinh nguyệt. Do mức độ tổn thương của niêm mạc tử cung, nếu tổn thương không nhiều, chỉ có một bộ phận nào đó ở khoang tử cung bị dính, thường chỉ làm giảm lượng kinh nguyệt hoặc gây ra xuất huyết không theo một quy tắc nào. Nếu tổn thương nghiêm trọng, mặt dính ở khoang tử cung rộng, sẽ gây bế kinh lâu dài. Nếu cổ tử cung bị dính, máu hành kinh không ra ngoài được mà chảy ngược vào bụng cũng sẽ gây ra bế kinh lâu dài và đau bụng có tính chất chu kỳ.

Vô sinh có tính kế phát: Sau khi nạo phá thai, không thụ thai lại được nữa, ngoài nguyên nhân dính khoang tử cung đã nói trên, còn có khả năng do ống dẫn trứng bị viêm. Khi làm thủ thuật bị viêm nhiễm, chứng viêm có thể từ nội mạc tử cung lan sang ống dẫn trứng, làm cho khoang ống dẫn trứng bị dính, gây ra tắc; cũng có khả năng do ống limpha và mạch máu ở vách tử cung khuếch tán ra tới tổ chức liên kết cạnh tử cung, làm cho xung quanh ống dẫn trứng viêm, miệng ống dẫn trứng dính vào nhau và kẹt lại. Khi ống dẫn trứng tắc lại do miệng ống dẫn trứng bịt lại, đều cản trở tinh trùng và trứng gặp nhau, tất nhiên không thụ thai được.

Sảy thai hoặc đẻ non: Khi nạo phá thai, nhất là khi nạo, phải dùng đến kìm để lấy thai ra, nếu miệng cổ tử cung bị dụng cụ nới rộng làm rách, thì sau đó, hễ có thai là sau 12 tuần sẽ kết thúc bằng sảy thai.

Nhau thai dính vào: Khi tử cung bị nạo quá sâu hoặc bị nạo hút nhiều lần, nội mạc tử cung bị tổn thương và teo lại. Đến khi có thai tiếp sau đó, nội mạc tử cung do đã bị tổn thương và teo lại nên thường không thể lành lặn lại, phải bong ra lớp màng đáy để tiếp nhận phôi bào cấy vào, màng tử cung bong ra phát dục không tốt, lông tơ ở bên ngoài phôi bào sẽ cấy sâu vào, thậm chí còn xâm phạm tới lớp cơ bên dưới của màng tử cung. Nhau thai được hình thành như vậy khó hoặc căn bản không thể tự nhiên tách ra được khỏi thành tử cung. Kết quả là sau khi sinh con, bộ phận nhau thai dính liền hoặc cấy sâu vào thành tử cung sẽ không thể bong ra được, ảnh hưởng đến sự thu co tử cung, hốc hõm máu ở thành tử cung chỗ bóc tách ra đó mở rộng ra sẽ gây xuất huyết nhiều. Nếu nhau thai dính liền vào thành tử cung còn có thể bóc ra, còn nếu nhau thai cấy sâu vào thành tử cung thì chỉ có cách cắt bỏ tử cung mới giải quyết được.

Hiện có rất nhiều biện pháp tránh thai, bạn hãy áp dụng nếu chưa muốn sinh con. Còn nếu lỡ có thai, nên đến cơ sở y tế có chất lượng nạo phá thai an toàn để giải quyết càng sớm càng tốt nhằm hạn chế các tai biến, biến chứng.

Bệnh viện Phụ sản T.Ư vừa công bố kết quả nghiên cứu trên 154 trường hợp phá thai từ 17 - 22 tuần tuổi, trong năm 2008, kết quả cho thấy có tới 18% phá thai do lựa chọn giới tính. Đáng lưu ý là, hơn 31% các trường hợp phá thai là đối tượng học sinh, sinh viên. Hiện nay, Tổ chức Y tế Thế giới đánh giá Việt Nam là nước có tỉ lệ phá thai cao nhất châu Á và là một trong 5 nước có tỉ lệ phá thai nhiều nhất trên thế giới. Tính riêng trong  2 năm (2007 - 2008), tại BV Phụ sản TƯ có 11.826 trường hợp phá thai, trong đó 9,1% phá thai to.

Bác sĩ  Quang Dũng

Dinh dưỡng khi mang thai

Dinh dưỡng tốt khi mang thai giữ một vai trò quan trọng giúp bảo đảm sức khỏe cho bà mẹ khi mang thai, khi sinh, và nuôi trẻ sau sinh. Đối với thai, việc mẹ được cung cấp đầy đủ các dưỡng chất sẽ bảo đảm cho thai nhi phát triển tốt và phòng tránh được một số khuyết tật.

Những thay đổi ở phụ nữ mang thai có liên quan đến dinh dưỡng

Khi mang thai, cơ thể người phụ nữ có sự thay đổi trên hầu hết các cơ quan: nhu cầu về năng lượng và các dưỡng chất đều gia tăng, hấp thu ở ruột tăng, thay đổi về chuyển hóa cơ bản, và có một số biểu hiện do sự thay đổi của nội tiết tố trong cơ thể như: chán ăn một hoặc nhiều món ăn, buồn nôn, nôn, ợ nóng, bón. Những thay đổi này ít nhiều sẽ ảnh hưởng đến sự tăng cân của thai phụ.

 Hoa quả cung cấp nhiều vitamin cho thai phụ.
Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của thai phụ

Đánh giá sự tăng cân

Mức tăng cân đủ trong suốt thai kỳ được khuyến nghị tại Việt Nam là từ 10-12kg, trong đó:

- 3 tháng đầu: không tăng cân hoặc tăng ít (1kg).

- 3 tháng giữa: 4-5kg.

- 3 tháng cuối: 5-6kg.

Trong 6 tháng cuối, mỗi tháng tăng ít hơn hoặc bằng 1kg là tăng cân ít.

Tăng cân đủ là một yếu tố giúp xác định thai kỳ khỏe mạnh. Tăng cân ít thường gặp ở các thai kỳ bệnh lý hoặc dinh dưỡng kém.

Thai kỳ tăng cân ít: tăng cân ít trong lúc mang thai thường đi kèm với thai chậm tăng trưởng trong tử cung và tỷ lệ tử vong chu sinh cao.

Thai kỳ tăng cân nhiều: tăng cân quá nhiều khi mang thai sẽ dẫn đến tình trạng béo phì sau khi sinh của mẹ và cân nặng của trẻ sơ sinh cao (>4.000g), từ đó đưa đến những khó khăn khi sinh con như: chuyển dạ kéo dài, khó sinh do vai, sinh mổ, chấn thương khi sinh, ngạt, khi mẹ tăng cân quá nhiều đi kèm với cân nặng của trẻ sơ sinh quá lớn thì cũng cần tầm soát đái tháo đường thai kỳ.

Đánh giá khẩu phần ăn: thai phụ trước tiên phải thực hiện theo “10 lời khuyên dinh dưỡng hợp lý” của Viện Dinh dưỡng Quốc gia (2006 – 2010). Đồng thời xem khẩu phần ăn có tăng so với lúc chưa mang thai hay không? Có uống bổ sung sắt và acid folic đúng thời điểm không?

Nhu cầu dinh dưỡng của thai phụ:

Năng lượng: tổng năng lượng bổ sung cho toàn thai kỳ là 55.000 Kcal, nhằm phục vụ cho việc hình thành một trẻ sơ sinh có cân nặng từ 3-3,4kg, tích tụ 0,9kg protien, 3,8kg mỡ và phục vụ cho các chuyển hóa trong cơ thể thai phụ, cụ thể là mỗi ngày thai phụ cần được cung cấp thêm 350Kcal so với lúc không mang thai.

Chất đạm: các acid amin thiết yếu (histidine, isoleucine, leucine, lysine, methionine, phenylalanine, threonine, tryptophan và valine) phải được cung cấp đủ trong khẩu phần, vì chúng không thể tổng hợp được trong cơ thể. Thai nhi cần số lượng lớn chất đạm để tăng trưởng và tích tụ protein mới. Lượng đạm tăng thêm được khuyến nghị bởi Viện Dinh dưỡng Quốc gia là 15g mỗi ngày. Nguồn đạm tốt cho thai phụ có trong hầu hết là các thực phẩm dùng hàng ngày: thịt, cá, trứng, sữa, pho-mát, ngũ cốc, các loại đậu…

Tăng lượng đạm là cần thiết để duy trì một thai kỳ thành công.

Chất sắt: thiếu máu do thiếu chất sắt là tình trạng thường gặp ở phụ nữ mang thai (30-50%). Hậu quả của thiếu máu thiếu sắt khi có thai là: kết quả thai kỳ kém (không đạt được mẹ tròn con vuông), trẻ sinh ra nhẹ cân, tỷ lệ mắc các bệnh nhiễm trùng cao ở mẹ lẫn con. Biểu hiện của thiếu máu bao gồm: da xanh, niêm mạc nhợt, cơ nhão, làm việc mau mệt và ưa buồn ngủ.

Sắt là vi chất duy nhất được Tổ chức Y tế Thế giới khuyên nên bổ sung cho phụ nữ mang thai. Liều lượng bổ sung mỗi ngày từ 30-60mg, thời gian bổ sung kéo dài từ khi biết có thai cho đến sau khi sinh 1 tháng. Nên uống viên sắt giữa các bữa ăn với các thức uống không phải là sữa, trà, cà phê.

Thực phẩm giàu sắt bao gồm: các loại thịt, huyết, trứng, gan, tim, các loại rau lá có màu xanh đậm. Sắt có trong thức ăn động vật dễ hấp thu hơn sắt có trong thức ăn thực vật.

Acid folic (vitamin B9): có vai trò quan trọng trong việc phân chia các tế bào, vì vậy ngoài việc tham gia trong quá trình tạo ra tế bào hồng cầu, acid folic còn giữ vai trò quyết định trong việc hoàn thiện ống thần kinh của thai nhi. Hậu quả của thiếu acid folic là khiếm khuyết ống thần kinh gây ra thai vô sọ, thoát vị não - màng não, hở đốt sống, gai đôi cột sống.Vì ống thần kinh của thai nhi được hình thành trong 4 tuần đầu của thai kỳ, nên việc bổ sung acid folic phải được thực hiện ngay từ khi có ý định mang thai cho đến hết 3 tháng đầu của thai kỳ. Liều bổ sung được khuyến nghị là 0,4 0,8mg/ngày. Thực phẩm có nhiều acid folic: thịt bò, gan, giá sống, rau xanh, củ cải, bông cải, đậu nành… Nhưng cần lưu ý là acid folic rất dễ bị hủy bởi nhiệt độ và ánh sáng mặt trời.

Giải quyết những rắc rối thường gặp trong thai kỳ

Buồn nôn, nôn: ăn nhiều bữa nhỏ, không ăn quá no, tránh mùi và các loại thức ăn kích thích nôn ói, giữ tinh thần thoải mái.

Ợ nóng (nóng sau xương ức): ăn nhiều bữa nhỏ, tránh động tác cong người, không nằm ngang, đầu thấp.

Táo bón: duy trì thói quen đi tiêu đúng giờ, ăn nhiều rau, trái cây, uống nhiều nước (trên 2 lít mỗi ngày).

Biếng ăn: ăn nhiều bữa, tạo điều kiện để thai phụ được ăn những món mà họ ưa thích.

Phù: hạn chế đứng nhiều, ngồi nhiều, giảm ăn mặn, nằm, đặc biệt là nằm nghiêng giúp giảm phù.

Trĩ: tránh táo bón, tránh đứng nhiều, nên nằm nghiêng, kê chân cao khi nằm.

Thai kỳ có yếu tố nguy cơ

Những thai kỳ có yếu tố nguy cơ dễ có diễn tiến bất lợi cho mẹ và con, vì vậy cần có sự hướng dẫn, chăm sóc trực tiếp từ bác sĩ. Những yếu tố nguy cơ bao gồm: tuổi dưới 18, chiều cao dưới 145cm, đã sinh trên hoặc bằng 4 lần; những thai kỳ trước có diễn biến bất thường như: băng huyết, sản giật, sinh khó, sinh mổ, con chết tuần đầu sau sinh…; đang có bệnh (tim, phổi, thận), thai kỳ hiện tại có những biểu hiện “bất thường” về tuổi thai, cân nặng mẹ, chiều cao tử cung, ngôi thai, xuất huyết âm đạo….

BS. NGUYỄN VĂN TÚ

Xử trí tăng cân ít khi mang thai:

Tăng năng lượng ăn vào bằng cách: ăn nhiều bữa, ăn các thực phẩm có đậm độ năng lượng cao như: dầu, mỡ, các thức ăn chiên, xào, thức ăn ngọt. Chủ động tránh những thức ăn có mùi khó chịu gây kích thích nôn ói, chuẩn bị sẵn những thức ăn ưa thích, dễ ăn.

Sử dụng các thực phẩm bổ sung: sữa dành cho các bà mẹ mang thai.

Thuốc bổ sung các dưỡng chất: các thuốc được sản xuất bổ sung cho thai phụ thường có thành phần dưỡng chất đạt dưới hoặc bằng 100% nhu cầu khuyến nghị hàng ngày cho phụ nữ mang thai, việc bổ sung mỗi ngày 1 viên không gây ngộ độc.

Không nên dùng than để sưởi sau khi sinh

 Đi bộ rất tốt đối với phụ nữ mang thai. Ảnh: TL
Một thói quen và tập quán tồn tại từ xưa đến nay ở một số vùng là phụ nữ sau khi sinh nằm trên giường, dưới là một chậu than để sưởi, đặc biệt là chị em ở vùng sâu, vùng xa, sinh con vào mùa lạnh. Theo quan niệm cũ, nằm than có lợi là giữ ấm cơ thể, giúp trẻ và sản phụ cứng cáp hơn. Tuy nhiên, khoa học đã chứng minh, nằm than sau sinh lợi ít mà hại nhiều.

Theo quan niệm trước đây, khi sinh, sản phụ bị mất một lượng máu ít nhất 300ml. Do vậy, cơ thể của sản phụ sẽ yếu và lạnh hơn so với bình thường. Mặt khác, khi mang thai, tim, mạch máu, cơ, phổi... của sản phụ phải tăng cường hoạt động để nuôi thai nhi. Sau sinh, các trạng thái này bị "cắt" đột ngột làm cơ thể của người mẹ có sự dao động và thân nhiệt hạ xuống. Do đó, sản phụ phải nằm than để cơ thể ấm lại, máu huyết lưu thông, tuần hoàn máu tốt hơn. Cũng có quan niệm cho rằng nằm than sẽ giúp sản phụ và trẻ cứng cáp hơn; lâu dài về sau, sản phụ không bị đau nhức mình mẩy, không bị lạnh run...

Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu khoa học cho thấy, khi than đốt lên sẽ phóng ra một lượng khí CO2 mà sản phụ thì thường được sắp xếp nằm trong phòng kín gió, nên lượng khí CO2 sẽ bay quanh quẩn trong phòng. Người mẹ có sức chịu đựng, có thể không bị ảnh hưởng CO2 nhưng với trẻ sơ sinh, nếu hít phải khí CO2 ­ dễ bị ngạt, nặng hơn sẽ ảnh hưởng đến hệ thần kinh, não của trẻ... Ngoài ra, không phải lúc nào người thân sản phụ cũng có thời gian để thường xuyên canh mẻ lửa than nên có khi quá nóng, có khi lại quá nguội. Sản phụ vừa quen với ngưỡng nóng thì lửa tàn lại làm cho sản phụ lạnh hơn. Trạng thái nóng rồi lạnh bất thường cũng không tốt cho sức khỏe của sản phụ và trẻ. Đáng nói hơn là nằm than sẽ dễ bị bỏng, nhất là đối với trẻ sơ sinh vốn có làn da rất mỏng. Nằm than trong mùa hè oi bức càng dễ làm da bé nổi mụn rộp. Nếu không chăm sóc tốt, trẻ dễ bị nhiễm trùng da. Nằm than sau khi sinh làm tăng tiết mồ hôi, khiến cả sản phụ lẫn trẻ đều bị mất nước.

Mặt khác, chưa có nghiên cứu khoa học nào chứng minh rằng nằm than sẽ giúp sản phụ và trẻ cứng cáp hơn, sản phụ không bị đau nhức... Cần biết rằng những bệnh lý sau sinh như đau lưng, hay quên... là do dinh dưỡng, chế độ nghỉ ngơi, lao động chân tay chưa hợp lý... của sản phụ trong quá trình mang thai và sau khi sinh.

Mặc dù ít gặp trường hợp sản phụ và trẻ nằm than bị ngạt do khí CO2 dẫn đến tử vong, nhưng đã có nhiều trường hợp sản phụ và trẻ phải nhập viện vì nằm sưởi than. Sản phụ thì bị lở lưng, trẻ thì bị bỏng, mụn rộp nổi lên khắp người, nhiễm trùng da và lan sang các bộ phận khác. Vì vậy, thay vì nằm sưởi than, sản phụ chỉ cần vận động sớm, với động tác nhẹ nhàng để máu huyết được lưu thông tốt, không bị tắc nghẽn mạch máu, các cơ sớm phục hồi, hiện tượng nhão cơ ít xảy ra, da không bị nhăn. Nếu muốn giữ ấm cho trẻ và sản phụ, có thể sử dụng bóng đèn tròn đặt dưới gầm giường nhưng nên nhớ phải điều chỉnh nhiệt độ ấm vừa, không quá nóng.

Khi chăm sóc sản phụ sau sinh, cần tránh những quan niệm thiếu cơ sở khoa học, như: nằm sưởi than; ăn uống kiêm khem quá mức, không đủ chất dinh dưỡng... Nên cho sản phụ ăn đủ chất, ăn nhiều món. Sản phụ phải vệ sinh cơ thể sạch sẽ... Sản phụ nên vận động sớm bằng các động tác nhẹ và sắp xếp thời gian nghỉ ngơi hợp lý...

Bác sĩ Trần Vĩnh Huy